Khoảng cuối thế kỷ 9, ca sĩ ở các tu viện như St. Gall tại Thuỵ Sĩ bắt đầu thử nghiệm với việc thêm yếu tố khác vào trong thánh ca, thường thấy nhất và một giọng khác hát song song hầu hết cao hơn bè ban đầu một quãng bốn hoặc năm đủ (đôi khi là quãng tám đúng). Thể loại nhạc này được gọi là organum và đại diện cho hình thức hoà âm và đặc biệt và đối âm sơ khai. Trải qua nhiều thế kỷ, organum phát triển theo rất nhiều hướng khác nhau. Việc sử dụng các đường giai điệu thêm vào lúc đầu chỉ được sử dụng ở quãng trên của giọng chính thì một thời gian sau họ sử dụng luôn cả quãng dưới.
Ví dụ về Early organum - hình thức phức điệu sơ khai đầu tiên:
- Early organum: Ngay từ đầu khi đưa vào ứng dụng, giai điệu hai lớp kiểu này đã bao hàm khái niệm tiến hành bè và không chấp nhận sự do ứng tác, trong đó nhịp điệu phải chính xác và đối nhau từng nốt nhạc một. Như đã đề cập ở trên, đầu tiên người ta chèn vào thêm một giai điệu cách giai điệu chính các quãng bốn, năm và tám; trong khi nhóm thứ hai gồm các nhóm quãng tám cộng bốn, tám cộng năm, và quãng tám kép. Phương pháp mới này được các tác giả của hai luận thuyết đặt tên là organum. Những organum đầu tiên được mô tả trong cuốn enchiriadis có thể được coi là "organum chính xác". Organum chính xác lại có thể chia ra làm hai thể loại là diapente (organum ở quãng năm) và diatesseron (organum ở quãng bốn).
- Free organum: Do cả hai loại organum chính xác này đều có vấn đề với những nguyên lý âm nhạc đương thời - dù bất kỳ loại nào trong chúng chơi song song một đoạn thánh ca gốc quá lâu (tuỳ theo âm điệu) sẽ tạo ra một tam âm (người thời sau gọi quãng tam âm là con quỷ trong âm nhạc, ví dụ điển hình nhất là quãng hòa âm F & C#). Vấn đề này sau đó được giải quyết phần nào với sự ra đời của loại organum thứ hai. Thể loại organum thứ hai này được gọi là "organum tự do" (1020-1050 ). Điều phân biệt nó khỏi thể loại trước đó là các phần của nó không chỉ chơi theo phép chuyển động cùng chiều, mà còn theo phép xiên chéo, hoặc đối nghịch. Điều này giúp nó tránh được sự xuất hiện của tam âm đáng sợ.
- Florid organum: Hình thức cuối cùng của organum được biết đến là "florid organum (melismatic organum)", phát triển xa hơn nhiều so với tất cả các thể loại nhạc phức điệu ra đời cho đến thời điểm đó. Florid organum còn được gọi là nhạc của Trường học Thánh Martial (đặt theo tên một tu viện ở Trung Nam nước Pháp, nơi còn lưu giữ những bản nhạc phổ viết tay tốt thất của thể loại nhạc này). Theo phong cách mới này bè gốc được hát ở những nốt dài trong khi một giọng kèm theo sẽ hát rất nhiều nốt theo mỗi một nốt chính, thường theo lối rất tỉ mỉ, tất cả nhằm nhấn mạnh hoà âm đủ (quãng bốn, năm, và tám), như trong hình thức organum ban đầu. Những bước phát triển tiếp theo của thể loại nhạc này diễn ra ở Anh, nơi các quãng ba được đặc biệt ưu ái (gymel), và nơi các bản organum hầu như được ứng tác trên những điệu thánh ca có sẵn, và ở Tu viện Saint Martial (Limoges) & Notre Dame (Paris), nơi trở thành trung tâm của các hoạt động sáng tạo âm nhạc trong suốt thế kỷ XII - XIII.
Ví dụ về florid organum - nở rộ như những đóa hoa:
Rất nhiều tác phẩm âm nhạc ra đời trong giai đoạn đầu Trung cổ là vô danh. Một số có thể có tên thì hầu như là của các nhà thơ hoặc những người viết lời bài hát trong khi làn điệu dựa trên đó họ phổ lời lại được viết bởi người khác. Vai trò của nhạc đơn âm trong thời kỳ trung cổ không phải lúc nào cũng đáng tin cậy, những bản nhạc organum viết tay từ thời kỳ này còn tồn tại đến ngày nay bao gồm Musica Enchiriadis, Codex Calixtinus của Santiago de Compostela, và Winchester Troper. Để biết thêm thông tin về các nhà soạn nhạc, nhà thơ trong giai đoạn Thượng kỳ Trung cổ mởi tìm tư liệu về Pope Gregory I, St. Godric, Hildegard of Bingen, Hucbald, Notker Balbulus, Odo of Arezzo, Odo of Cluny, và Tutilo.
Theo Wikipedia (mình chỉ viết đoạn đầu tiên, còn lại chỉnh sửa thêm thắt tí xíu thôi!)



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét