Đây là giai đoạn mà trong đó ký âm về giai điệu lần đầu tiên xuất hiện trong âm nhạc phương Tây, chủ yếu là phương pháp dựa trên cấu trúc của ký âm giai điệu gọi là nốt nhịp.
Đây cũng là thời kỳ trong đó các khái niệm về ‘cấu trúc chính thức’ được phát triển trong đó chú trọng tới các tác động bộ phận, bối cảnh và cấu trúc. Các nhà soạn nhạc thời kỳ này thay thế florid và discan organum (mang tính nốt-đối-nốt, trái ngược với sự tiếp nối của rất nhiều nốt cùng một âm tiết đối với một nốt kéo dài có trong thể loại florid), và tạo ra rất nhiều loại hình âm nhạc mới:
- {Kí hiệu cao độ đã được giải quyết từ thời organum bằng việc sử dụng một khuông nhạc gồm 4, 5 dòng kẻ hoặc nhiều hơn (sự hoàn hảo của hệ thống này là nhờ ở tu sĩ người Ý thuộc dòng Benedictine Guido d’Arezzo thế kỉ XI) tương tự như kí hiệu nhạc ngày nay.}
- Kí hiệu về nhịp điệu có vẻ khó nghĩ ra hơn: Đến thế kỉ XI - XII, giải pháp được nghĩ ra là dựa vào một nhóm những mẫu hình nhịp điệu ngắn gọi là những kiểu nhịp (fixed patterns) - mẫu hình hay kiểu nhịp tương tự được lặp đi lặp lại cho đến khi nhà soạn nhạc chỉ ra bằng một kí hiệu, theo đó một kiểu nhịp khác sẽ thế chỗ cho kiểu nhịp cũ, tạo ra một sự đa dạng các loại nhịp đạt được bằng cách sử dụng những kiểu 'kí hiệu cách thức' (tương tự như tiết tấu thời nay) khác nhau một cách đồng thời trong các bè giọng khác nhau và bằng cách thay đổi các kiểu nhịp trong từng đoạn của tác phẩm; đến thế kỉ XIII, người ta bỏ kí hiệu cách thức này, và những giá trị nốt có trường độ dài ngắn đơn giản & hiện đại hơn được đưa vào sử dụng.
Đây cũng là thời kỳ trong đó các khái niệm về ‘cấu trúc chính thức’ được phát triển trong đó chú trọng tới các tác động bộ phận, bối cảnh và cấu trúc. Các nhà soạn nhạc thời kỳ này thay thế florid và discan organum (mang tính nốt-đối-nốt, trái ngược với sự tiếp nối của rất nhiều nốt cùng một âm tiết đối với một nốt kéo dài có trong thể loại florid), và tạo ra rất nhiều loại hình âm nhạc mới:
- clausulae, là phần các nốt cùng âm tiết xuất phát từ các organum được làm cho phù hợp với ca từ mới và phần nhạc được trau chuốt hơn;
- conductus, là ca khúc cho một hoặc nhiều giọng hát theo giai điệu, có thể là kế thừa từ thể loại nào đó;
- tropes, là thể loại chèn thêm ca từ và đôi khi là phần nhạc mới và những khúc thánh ca cũ.
{Tất cả những thể loại mới này đều chung đặc điểm: dựa trên thánh ca; đó là một trong các giọng (thường là ba hoặc đôi khi là bốn) gần như là âm trầm nhất (thời điểm này là giọng tenor) sẽ hát giai điệu thánh ca (mặc dù với cách soạn các nốt có độ dài tự do), qua đó những giọng khác hát organum. Ngoại lệ của phương pháp soạn nhạc này là thể loại conductus, có hai giọng được soạn một cách tự do trong suốt toàn bộ tác phẩm.}
- Motet là một trong những loại hình âm nhạc quan trọng nhất của âm nhạc thời kỳ Trung cổ và Phục Hưng có nguồn gốc từ thể loại clausulae giai đoạn Notre Dame, đặc biệt là hình thức sử dụng nhiều giọng hát được trau chuốt bởi Pérotin, người đặt những viên gạch nền tảng cho thể loại này bằng cách thay thế rất nhiều tác phẩm florid clausulae dài của thầy giáo ông, Léonin, (như canon của nhà thờ) bằng những tác phẩm mang phong cách discant.
Giá trị nhịp của những voces organales giảm xuống khi các phần được nhân lên với duplum (phần trên bè tenor) có giá trị nhịp nhỏ hơn tenor, bè triplum (giọng cao hơn duplum) có giá trị nhịp nhỏ hơn duplum, và cứ thế tiếp tục (nói nôm na là một nốt của bè thấp hơn sẽ ngân ra dài cho bè cao hơn hát nhiều nốt, bè càng cao hát càng nhanh & nhiều nốt). Qua thời gian, những voces organales có ca từ mang nội dung thế tục tăng lên và phần ca từ tôn giáo ở bè tenor ngày càng giảm đi. Bản Motet của Pérotin là một thể loại có tính phức tạp cao, với sự pha trộn của rất nhiều dấu ngân nốt tròn với nốt nhịp và đôi lúc là sự thay thế (mức độ ngày càng tăng) của các bài hát thế tục cho khúc thánh ca trong bè tenor. Thực tế, sự phức tạp hoá về giai điệu này sẽ trở thành đặc điểm nền tảng cho thế kỷ 14, từ đó âm nhạc Pháp, Italia, và Anh sẽ phát triển theo nhiều con đường khác nhau.
Vậy, ars antiqua là organum mở rộng. Thông qua ví dụ trên về ars antiqua, mình đã rút ra vài kết luận ngắn gọn về sự khác biệt giữa ars antiqua & thể loại trước đó - organum (không chắc đúng 100%):
- Organum thường chỉ có 2 bè, sang đến ars antiqua thì đã có thêm bè thứ 3, thậm chí 4 bè.
- Ars antiqua đã có dấu để kí hiệu tiết tấu nhanh chậm, organum thì chưa.
- Đối với ars antiqua, trong cùng một bản nhạc, các bè khác nhau nhiều khi được hát bằng những thứ tiếng khác nhau.
Những bản nhạc viết tay còn được bảo tồn đến nay bao gồm Montpellier Codex, Bamberg Codex, và Las Huelgas Codex. Các nhà soạn nhạc của thời kỳ này gồm có Léonin, Pérotin, W. de Wycombe, Adam de St. Victor, và Pierre de la Croix. Petrus được cho là người tạo ra sự cách tân khi viết hơn ba nốt trong để khớp với độ dài của một dấu ngân. Cách tân này tiếp nối bởi cách tân về tempus thiếu - cái đã sản sinh ra thời kỳ mà ngày nay chúng ta gọi là motet của Pérotin.
Theo Wikipedia & nhạc sĩ Hải Nguyễn (mình chỉ viết đoạn kết luận cuối cùng thôi!)



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét